Alleluia

• Nhạc & lời: Leonard Cohen
• Lời Việt: Nguyễn Thảo
• Trình bày: Lê Vũ, Nguyễn Thảo, Triệu Vinh
• Hòa âm & phối khí: Lê Vũ
• Ghi âm: Nhiều phòng thâu
• Final mix: LeVuMusic Studio
• Graphics: MarcMarc

Nhân dạo này, anh Ngu Yên vừa tung ra một loạt bài viết về âm nhạc, từ nhạc sĩ , ca sĩ đến khán giả, từ cấu trúc bài nhạc đến cấu trúc hòa âm, những bài phân tích mà KJ cảm thấy rất cần cho ta tìm hiểu cũng như tạo cho ta một thói quen thẩm thấu âm nhạc một cách có ý thức hơn. Tuần này, Đại Quỳnh gửi đến các bạn một bài viết kỷ thuật hơn. Anh là một bác sĩ tâm thần, lớn lên trong môi trường nghệ thuất, và đã theo học âm nhạc trong bao năm qua. Mời các bạn.

Đại Quỳnh: Hiện tượng “Transference,  Countertransference, and Collective Unconscious” trong âm nhạc

Trong ngành y khoa tâm thần và tâm lý trị liệu, khái niệm “Transference and Countertransference” là một trung điểm, tầm quan trọng có thể chỉ định được mức thành công của sự chữa trị ngay từ giây phút ban đầu. Tóm tắt, “transference” định nghĩa cho những phản ứng mãnh liệt, và hoàn toàn từ bất ý thức, của người cần trị liệu đến người chữa trị (bác sĩ y khoa tâm thần, hay chuyên gia tâm lý trị liệu).

Ví dụ, một người đàn ông mang tên X mắc phải những triệu chứng trầm cảm (mất ăn, mất ngủ, suy nhược sức khỏe, mất tập trung, mất tha thiết niềm vui trong đời sống), bồn chồn, gặp những khó khăn trong công việc và dần mất tự tin. Anh ta tìm đến một bác sĩ y khoa tâm thần mang tên Y để tham khảo và chữa trị. Sau khi X được cho thuốc men giúp phục hồi phần nào sức khỏe, song song với tâm lý trị liệu, tuy nhiên X vẫn cảm thấy còn phần nhiều triệu chứng ban đầu, dù là giảm đi mức trầm trọng, nhưng vẫn không sinh hoạt bình thường được.

Trong trường hợp của X, ngay hôm đầu gặp bác sĩ Y, X đã ngờ ngợ một cảm giác quen thuộc. Y nói chuyện từ tốn nhẹ nhàng, và có một dáng dấp cùng những cử chỉ như người cha của X. Trong quá khứ, X lớn lên trong nền giáo huấn khắt khe, nhiều đòi hỏi kỳ vọng ở người cha, nên sự thiếu tự tin và những dấu hiệu bồn chồn trầm cảm đã xuất phát từ nhỏ. Transference xảy ra cho X do phản ứng của X đối với Y, như người con ngoan ngoãn tuân lệnh người cha. Trị liệu thuốc men giúp một phần nào triệu chứng, nhưng phản ứng transference không những duy trì mà còn khích động thêm bồn chồn trầm cảm nơi X.

“Countertransference” là phản ứng đối chiếu do X gây ra trong Y. Lối nói chuyện nhỏ nhẹ, thái độ nhút nhát của X làm Y liên tưởng đến người mẹ của Y, sống bên người chồng hung hăng luôn đàn áp và hà hiếp bà. Từ nhỏ, Y đã luôn phải tìm mọi cách để bảo vệ mẹ mình, đưa đến trong Y một trạng thái phẫn uất, dễ khả nghi những sự việc chung quanh.

Và như thế, chúng ta có thể hiểu được những khó khăn chữa trị, dẫu cho Y có tận tâm hết mức và X theo sát tuân chỉ chữa trị (treatment compliance). Nguyên nhân chính là do yếu tố nan giải transference and countertransference.

“Collective unconscious” là một khái niệm uyên bá, phổ thông hóa bởi Carl Jung. Ông định nghĩa về những khuôn mẫu huyền bí trong tạo hóa, kết dựng từ toàn thể bất ý thức trong nhân sinh, đã hiện thể từ muôn đời. Ví dụ, khuôn mẫu người mẹ thương con đã sẵn có trong tiềm thức nhân sinh, trong bất ý thức của người đàn bà. Sau khi sanh con, người mẹ lập tức tự động đi vào quỹ đạo thương lo cho con suốt đời—không cần đến một bài học trường lớp nào để nền tảng cho ý thức này. Ví dụ tiếp đến là khuôn mẫu anh hùng thời đại, sẵn có trong quỹ tích anh hùng từ bao thời đại trước trong tiềm thức nhân sinh.

Thế thì, “transference, countertransference, and collective unconscious” có liên hệ gì với âm nhạc?

Mỗi khi chúng ta tiếp xúc trong câu chuyện với bất kỳ ai, là transference đang xảy ra trong ta từ người đó. Hoặc khi chúng ta thuyết trình trước đám đông, ngầm dưới đề tài thuyết trình, transference diễn tiến không kiểm soát. Mặc dù chúng ta không có một sự tiếp xúc cố định với một nhân vật đặc những cá tánh nào—nhưng ngay cả những cảm xúc của chúng ta trong đề tài thuyết trình cũng là cơ hội tiết lộ ra những phản ứng transference bất ý thức.

Khi người ca sĩ X trình bày một nhạc phẩm, X đi vào một trạng thái transference trong bất ý thức. Ca sĩ X thể hiện nhạc phẩm với tình cảm và suy tư của riêng mình, là một cơ hội tiết lộ transference. Tùy theo mỗi cá nhân Y, phản ứng countertransference có thể là thích, ghét, hoặc trung trung ( bất ý thức)—ngoài đơn giản nhận xét và định giá phần trình bày bài nhạc (ý thức).

Tại sao những ca sĩ như Elvis Presley, Edith Piaf, etc. được yêu chuộng tức khắc trong những nhạc phẩm của họ, và vẫn tiếp tục được ái mộ sau nhiều thế hệ. Đây là vai trò khuôn mẫu collective unconscious của Jung. Người khán giả Y có thể nhận định nhiều ca sĩ có giọng hát hay hơn và nội lực hơn Elvis Presley và Edith Piaf (ý thức), nhưng trong bất ý thức collective unconscious, Elvis Presley và Edith Piaf đã và sẽ mãi mãi ngự trị khuôn mẫu của những tác phẩm này.

Những điều kỳ diệu thể hiện trong bất ý thức luôn là thâm thuý và có một sức duy trì bền bỉ với thời gian hơn là trong phạm vi ý thức. Lấy ví dụ cụ thể, khi tenor Andrea Bocelli ra dĩa nhạc bài “Can’t help falling in love” năm 2006, bài này đã đạt ngay được một mức thành công đáng kể, do giọng tenor nội lực của ông trong lối trình bày nhẹ nhàng thu hút. Nhưng phiên bản của Elvis Presley từ năm 1961 vẫn trường tồn cho đến ngày nay, mỗi khi ai nhắc đến bài này. Một ví dụ nữa là năm 2024, ở Thế vận hội  Paris Olympic, Céline Dion đã khai mạc với nhạc phẩm “Hymne à l’amour” và đã được hoan nghênh toàn cầu trong giọng mezzo-soprano với phong cách hát đam mê của cô. Nhưng chỉ trong một vài năm, ngay vào thời điểm 2026 này, khi nói đến “Hymne à l’amour”, phần lớn đều không quên phiên bản 1950 của Edith Piaf.

Kết luận, khi người ca sĩ trình bày một nhạc phẩm, ý thức của ca sĩ là giọng hát, phong cách trình diễn, và cảm xúc trong bài hát. Bất ý thức là những tình cảm của ca sĩ, có thể là khó khăn, đã từ lâu chôn vùi trong quá khứ. Khi hai yếu tố này (ý thức và bất ý thức) hội tụ với khuôn mẫu bất ý thức collective unconscious trong muôn vàn khán giả—A star is born!

Alleluia

Mạch nhạc nào nghe như có bí phép
Người đàn lên theo thánh ý chép.
Sao anh vô tư, không quan tâm, chẳng đoái hoài?
Này đây quãng tư, quãng năm tiếp nối.
Thứ âm trầm rơi, trưởng âm lên vút.
Ngẩn ngơ quân vương vung tay phóng bút Alleluia.
Alleluia, Alleluia, Alleluia, Alleluia

Niềm tin trong anh đôi lúc chới với,
Vì trong đêm trăng trên nóc mái ngói ,
Nhìn em tắm ánh nước lấp loáng, khiến anh như người mất hồn.
Buộc thân anh trên chiếc ghế gỗ mốc,
Đập tan ngai vua, gọt bay mái tóc.
Từ trên môi anh, em chắt lấy khúc Alleluia.
Alleluia, Alleluia, Alleluia, Alleluia

Phòng không nơi đây anh có biết đến.
Từng giam chân anh, và đã lấy mất hết,
Lấy mất tất cả chỉ sót trong anh niềm cô độc.
Rềnh rang em giương cờ bay muôn sắc.
Tình yêu đâu ai vẻ vang chiến thắng?
Chỉ có vắng ngắt (và) nát tan câu nguyện cầu.
Alleluia, Alleluia, Alleluia, Alleluia

Một thời luôn nghe chuyện buồn vui dưới thế.
Chuyện nhân gian xưa em mang ra kể.
Nhưng nay sao anh chỉ thấy hoang mang toàn im lìm.
Một thời năm nao khi ta trong nhau,
Cùng thần linh kia giang cánh bay cao,
Làn hơi trên môi, ta nghe mấp máy Alleluia.
Alleluia, Alleluia, Alleluia, Allelu…ia

Còn không trên kia một đấng Sáng Thế?
Bài học yêu đương riêng anh vẫn biết
Sao cho nhanh tay bắn trúng kẻ trong cuộc chơi này.
Chẳng phải lời than trong đêm tối ám,
Cũng chẳng là ai tìm thấy ánh sáng,
Lạnh tanh rách nát chỉ có câu Alleluia.
Alleluia, Alleluia, Alleluia, Alleluia

Hallelujah

Well, I heard there was a secret chord
That David played and it pleased the Lord

But you don't really care for music, do you?
Well it goes like this: the fourth, the fifth
The minor fall and the major lift
The baffled king composing Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah, Hallelujah…

Your faith was strong but you needed proof
You saw her bathing on the roof
Her beauty and the moonlight overthrew you
She tied you to her kitchen chair
She broke your throne and she cut your hair
And from your lips she drew the Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah, Hallelujah…

Baby I've been here before
I've seen this room and I've walked this floor (you know)
I used to live alone before I knew you
And I've seen your flag on the marble arch
And love is not a victory march
It's a cold and it's a bro
ken Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah, Hallelujah…

There was a time when you let me know
What's really going on below
But now you never show that to me, do you?
But remember when I moved in you
And the holy dove was moving too
And every breath we drew was Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah, Hallelujah…

Maybe there's a God above
All I've ever learned from love
Was how to shoot somebody who outdrew you
And it's not a cry that you hear at night
It's not somebody who's seen the light
It's a cold and it's a broken Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah, Hallelujah…

Cầu Mưa

• Nguyên tác: Make It Rain
• Nhạc & lời: Foy Vance
• Lời Việt: Nguyễn Thảo
• Trình bày: Nguyễn Thảo
• Hòa âm & phối khí: Lê Vũ
• Ghi âm: ElevenSixteen
• Final mix: LeVuMusic Studio
• Graphics: Concept by MarcMarc

Ngu Yên: Khi Nhạc Khí Cùng Đi Tìm Linh Hồn Của Ca Khúc

Thuật Phối Khí Một Bản Nhạc

Một ca khúc, khi vừa sinh ra, thường chỉ là một sinh thể trần trụi. Một giai điệu ngân lên trong đầu người nhạc sĩ giữa cô đơn với cảm xúc. Vài câu lời chép vội trên mặt sau của môt tờ giấy nào đó, kể cả chiếc khăn tay. Một vòng hợp âm gảy bằng guitar thùng hoặc đã quen với xướng âm. Đó là khoảnh khắc của ý tưởng, đẹp, mong manh, nhưng còn thiếu da thịt. Để bài hát ấy đứng dậy và bước đi giữa cuộc đời, để nó chạm được vào hàng triệu trái tim xa lạ, cần có một người thứ hai cúi xuống bên nó. Người ấy là nhạc sĩ phối khí.

Nếu người viết ca khúc là người sinh ra đứa trẻ, thì người phối khí là người may cho nó tấm áo đầu tiên, dạy nó dáng đi, chọn cho nó màu sắc để bước ra ánh sáng. Phối khí không phải là chuyện “thêm đàn cho vui tai”.

Phối khí là nghệ thuật dựng lên cả một thế giới âm thanh quanh giai điệu, để khi lời và nhạc cuối cùng tìm thấy nhau, chúng không còn là hai mảnh rời rạc mà là một thân thể sống động, biết thở, biết rung.

Nhạc khí và tiếng nói riêng của chúng

Mỗi nhạc khí trên đời đều mang trong mình một tính cách, một giọng nói, gần như một số phận. Người phối khí giỏi là người nghe được những giọng nói ấy, và biết khi nào nên để chúng cất lời, khi nào nên để chúng im lặng.

Cây piano là một quý ông trầm tĩnh. Nó có thể cô độc và tự sự khi chỉ một mình lần theo giai điệu trong những bản ballad đêm khuya; nhưng cũng có thể trở thành cả một dàn nhạc thu nhỏ, nâng đỡ toàn bộ ca khúc bằng những hợp âm vang rền. Tiếng piano có cái lạnh trong trẻo của phím trắng và cái ấm của phím đen, có khả năng vừa gõ nhịp vừa hát, vừa đệm vừa dẫn. Khi một bài hát mở đầu bằng vài nốt piano đơn độc, ta lập tức biết mình sắp được kể cho nghe một điều gì riêng tư.

Cây guitar acoustic thì khác. Nó là người bạn ngồi cạnh ta bên bếp lửa, là tiếng nói của sự gần gũi và mộc mạc. Tiếng dây thép rung lên mang theo cả hơi ấm của ngón tay người gảy, cả tiếng rít nhẹ khi bàn tay trượt trên cần đàn, những “khuyết điểm” mà chính chúng làm nên sự chân thật. Guitar không cố tỏ ra hoàn hảo; nó chỉ muốn ở cạnh ta.

Cây guitar điện lại là kẻ nổi loạn. Qua bộ khuếch đại và những hiệu ứng méo tiếng, nó có thể gào thét, có thể rền rĩ, có thể bay bổng như một tiếng kêu vượt thoát. Trong một bản rock, tiếng guitar điện chính là ngọn lửa; trong một bản pop, nó là tia chớp bất ngờ làm sáng lòa cả bầu trời cao trào.

Dàn dây: violin, viola, cello là phần linh hồn dễ làm người ta rơi nước mắt nhất. Tiếng violin cao vút như tiếng người con gái khóc; tiếng cello trầm ấm như lời an ủi của một người từng trải. Khi cả dàn dây cùng dâng lên ở điệp khúc, ta cảm thấy lồng ngực mình nở ra, như thể cảm xúc trong bài hát bỗng có cánh. Nhưng dàn dây cũng nguy hiểm: lạm dụng nó, bài hát sẽ trở nên sến sẩm, giả tạo. Người phối khí phải biết tiết chế, biết để dàn dây chờ đợi, rồi mới bung ra đúng lúc trái tim người nghe đã sẵn sàng.

Basstrống là cặp đôi ít được nhắc tới nhưng quan trọng bậc nhất. Chúng là bộ xương và nhịp tim của bài hát. Bass đi dưới đáy, âm thầm nối kết hòa thanh với tiết tấu, vẽ ra con đường mà tất cả các nhạc khí khác bước theo. Trống giữ nhịp đập, quyết định bài hát sẽ đi nhanh hay chậm, sẽ làm ta lắc lư hay đứng yên lặng nghe. Một bản phối có thể hoa mỹ đến đâu, nhưng nếu phần nhịp điệu lỏng lẻo, cả công trình sẽ sụp đổ.

Rồi có synthesizer, keyboard, kẻ đến từ tương lai. Synth không bị giới hạn bởi gỗ, dây hay da; nó có thể tạo ra những âm sắc chưa từng tồn tại, những lớp nền mênh mông như sương mù, những tiếng “pad” ấm áp lấp đầy không gian, hay những âm thanh sắc lạnh của thời đại số. Trong âm nhạc hiện đại, synth mở ra một vũ trụ vô tận cho người phối khí dạo chơi.

Hiểu được tiếng nói của từng nhạc khí mới chỉ là bước đầu. Cái khó, cũng là cái đẹp của phối khí nằm ở chỗ biết cho chúng đối thoại với nhau. Không phải tất cả cùng nói một lúc, mà như một cuộc chuyện trò có người mở lời, có người lắng nghe, có người chen vào đúng lúc, có người lặng im đầy ý nhị.

Hầu hết nhạc Việt phối khí gần đây mà tôi nghe được là một số cãi nhau, một số khác tranh nhau phát ngôn chính, một số khác nữa kéo hết nhiều nhạc khí tấu hòa cùng lúc trở thành thiếu sắc thái. Và nhất là, phối khí không tìm thấy linh hồn của ca khúc.

Kiến thức, trải nghiệm và cá tính của người phối khí

Người ta thường nghĩ phối khí chỉ là chuyện kỹ thuật: biết hòa thanh, biết tầm âm của nhạc cụ, biết dùng phần mềm thu âm. Đúng, nhưng chưa đủ. Kỹ thuật là điều kiện cần, không phải điều kiện đủ. Có hàng nghìn người nắm vững lý thuyết hòa âm, nhưng chỉ một số ít trong họ tạo nên những bản phối khiến ta phải nghe đi nghe lại suốt cả đời.

Bởi phối khí, sâu xa, là một hành động diễn giải. Người phối khí đọc ca khúc như đọc một bài thơ, rồi quyết định: bài này muốn nói gì mà chính lời ca chưa nói hết? Nỗi buồn trong bài là nỗi buồn cam chịu hay nỗi buồn giận dữ? Tình yêu trong bài là tình yêu chớm nở hay tình yêu đã mất? Mỗi câu trả lời sẽ dẫn tới một thế giới âm thanh hoàn toàn khác. Cùng một giai điệu, một người có thể phối thành bản acoustic mộc mạc đến nao lòng, người khác lại biến nó thành bản orchestra hùng tráng, người thứ ba dựng thành bản electronic lấp lánh. Không ai sai cả, họ chỉ đọc bài hát bằng những tâm hồn khác nhau.

Chính ở đây, trải nghiệm sống của người phối khí lên tiếng. Một người từng yêu, từng mất, từng đi qua những đêm dài không ngủ sẽ biết đặt một khoảng lặng vào đúng chỗ một trái tim cần nghẹn lại. Một người từng nghe nhạc dân gian từ thuở bé sẽ biết thả một tiếng sáo, một câu hò vào giữa bản pop hiện đại để làm sống dậy ký ức quê hương. Vốn sống không nằm trong sách giáo khoa hòa âm; nó tích tụ qua năm tháng, qua những bản nhạc đã nghe, những nỗi đau đã sống, những vùng đất đã đi qua. Và rồi tất cả lặng lẽ chảy vào từng lựa chọn âm sắc.

Hầu hết nhạc sĩ phối khí Việt không quan tâm lắm về kiến thức chung, kiến thức về các ngành nghệ thuật khác và kiến thức của các nghệ thuật gần gũi với âm nhạc. Ít trải qua những trải nghiệm của sống và hiểu, phối khí lâm vào tình trạng nghèo dù các nhạc khí đồng loạt lên tiếng, phối khí lâm vào khả năng hời hợt khi khám phá linh hồn của bản nhạc. 

Cá tính mới là thứ làm nên một nhạc sĩ phối khí thực thụ chứ không phải một thợ phối. Có những người phối khí mà chỉ cần nghe vài giây đầu ta đã nhận ra căn cước của họ,  cách họ chọn hợp âm bất ngờ, cách họ để bè trống “lười biếng” đi sau nhịp một chút tạo cảm giác đung đưa, cách họ giấu một tiếng đàn nhỏ ở hậu cảnh chỉ những đôi tai tinh nhất mới nghe thấy. Cá tính ấy không học được; nó là kết tinh của gu thẩm mỹ, của sự dũng cảm dám khác biệt, của một quan niệm riêng về cái đẹp.

Người phối khí giỏi luôn đứng giữa hai lằn ranh nguy hiểm. Một bên là sự nghèo nàn, phối quá đơn giản, bài hát trở nên nhạt nhẽo. Một bên là sự tham lam, nhồi nhét quá nhiều nhạc cụ, quá nhiều ý tưởng, đến mức ca khúc bị bóp nghẹt dưới sức nặng của chính phần đệm. Bậc thầy là người biết nói “không” nhiều hơn nói “có”, biết rằng đôi khi điều dũng cảm nhất là bỏ đi một câu đàn mình rất tâm đắc, chỉ vì nó không phục vụ cho bài hát.

Nhạc sĩ phối khí có gì đặc biệt?

Điều đặc biệt nhất ở người phối khí, có lẽ, là họ làm nghệ thuật trong bóng tối. Khán giả nhớ tên ca sĩ, thuộc lời người viết, nhưng hiếm ai biết ai đã dựng nên cái thế giới âm thanh khiến họ rung động. Người phối khí chấp nhận đứng phía sau tấm màn, để ánh đèn rọi vào người khác. Đó là một sự khiêm nhường hiếm có trong một ngành nghề vốn đầy cái tôi.

Họ cũng là những người có đôi tai khác thường. Trong khi người nghe bình thường chỉ nghe thấy “một bài hát”, người phối khí nghe ra hàng chục lớp âm thanh đang đan vào nhau, nghe được dải tần nào đang trống, chỗ nào đang bị “đục”, câu trống nào đang lạc nhịp. Họ nghe nhạc như người thợ kim hoàn nhìn viên đá, thấy cả những vết xước mà người khác bỏ qua, và cả tiềm năng tỏa sáng mà người khác không hình dung ra.

Họ là những kiến trúc sư của cảm xúc. Người phối khí không viết ra cảm xúc, cảm xúc đã có sẵn trong giai điệu và lời ca. Nhưng họ là người thiết kế hành trình mà cảm xúc ấy sẽ đi qua: bắt đầu từ đâu, lên cao lúc nào, vỡ òa ở đoạn nào, rồi lắng xuống ra sao. Họ biết rằng một điệp khúc sẽ chẳng vang dội nếu trước đó không có một đoạn verse nhún nhường; một cao trào sẽ chẳng làm ai khóc nếu trước nó không có một khoảng lặng nín thở. Phối khí, vì thế, vừa là toán học của tần số, vừa là tâm lý học của trái tim.

Phối khí từ ba phía: người viết, người hát, người nghe

Về phía người viết, phối khí là sự tôn trọng và đôi khi là sự cứu rỗi. Người viết ca khúc trao đứa con tinh thần của mình cho người phối khí với tất cả niềm hy vọng lẫn lo âu. Một bản phối tốt sẽ làm hiện rõ những gì người viết hằng ấp ủ mà chưa diễn đạt được; nó “đọc” được ý đồ ẩn giấu trong từng câu chữ và thắp sáng chúng lên. Đôi khi, người phối khí còn nhìn thấy ở bài hát một chiều kích mà ngay cả người viết cũng chưa từng nghĩ tới và thế là ca khúc được nâng lên một tầng cao mới. Mối quan hệ giữa người viết và người phối, ở dạng đẹp nhất, là một cuộc đối thoại của hai tâm hồn cùng yêu một đứa con chung.

Về phía người hát, phối khí là cái nền để giọng hát đặt chân lên. Một bản phối thông minh biết “nhường đường” cho ca sĩ ở những câu quan trọng, lùi lại để giọng người cất lên không bị che lấp, rồi dâng lên nâng đỡ ở những đoạn cần sức mạnh. Nó cũng phải hiểu chất giọng của người hát: một giọng trầm ấm cần khoảng không gian thưa thoáng để ngân nga, một giọng cao vút lại cần phần đệm dày để có chỗ tựa vào. Người phối khí giỏi nghe được giọng hát trong tưởng tượng trước cả khi ca sĩ bước vào phòng thu, và dựng sẵn cho họ một sân khấu vừa vặn.

Về phía người nghe, phối khí chính là cánh cửa đầu tiên. Phần lớn người nghe không phân tích hòa thanh hay tiết tấu; họ chỉ cảm. Và cái họ cảm được, trước khi kịp hiểu lời, chính là không khí mà bản phối tạo ra. Vài giây nhạc dạo đầu đã quyết định người nghe sẽ ở lại hay lướt qua. Một bản phối hay là bản phối khiến người nghe muốn lắc lư, muốn nhắm mắt, muốn bật tâm tình, hoặc muốn nghe lại ngay lập tức mà không biết vì sao. Nó làm việc thầm lặng trong tiềm thức, gieo vào lòng người những rung động mà chính họ không biết. Đó là sự kỳ diệu, và cũng kín đáo nhất, của nghề phối khí.

Khi tất cả tìm thấy nhau

Cuối cùng, phối khí là nghệ thuật của sự gặp gỡ. Lời tìm thấy nhạc, nhạc tìm thấy nhạc khí, nhạc khí tìm thấy giọng hát, và tất cả cùng tìm đến trái tim người nghe. Người phối khí đứng ở giao điểm của tất cả những cuộc gặp gỡ ấy, vừa là người mai mối, vừa là người dẫn đường, vừa là người ở lại trong bóng tối khi ánh đèn đã tắt.

Một ca khúc hay là một ca khúc mà ở đó, ta không còn phân biệt được đâu là giai điệu, đâu là lời, đâu là tiếng đàn. Tất cả hòa làm một, như thể chúng vốn dĩ sinh ra để thuộc về nhau từ đầu. Và khi điều kỳ diệu ấy xảy ra, ta biết đã có một người, lặng lẽ ở đâu đó, dành cả tâm hồn mình để cho lời và nhạc cuối cùng tìm thấy nhau.

Cầu Mưa

Ôi, vì tội lỗi cha ta lưu lại
nhọc nhằn cả hồn ta
Và từng vết thương đâm sâu tim mẹ
chẳng chịu buông tha ta
Mà ta thấy sách chép về những tia lửa trời
làm tinh khiết trái tim vua muôn loài
Mà dẫu có biết lửa đốt cháy rát thêm nỗi đau
Mặc dù thế, có khác chi đâu?

Hãy trút xuống, cứ trút xuống cho người
Cho ngập tràn khắp nhân gian này.
Hãy trút xuống, ôi trút mãi xuống nhân loại
Làm rực cháy những tối tăm

Hạt giống trông mong mưa rào
chờ đợi ngày mọc từ lòng khô
Mà sao đất đá lấp kín cho thêm
đói khát trong vô vọng
Nhiều khi có nước mắt lặng lẽ đang tuôn trào
Thật ra chẳng có ich chi khi không ai nhìn
Và dẫu có biết nước mắt ấy đến từ nỗi đau
Mặc dù thế, có khác chi đâu?

Hãy trút xuống, cứ trút xuống cho đời
Cho ngập tràn khắp nhân gian này.
Hãy trút xuống, ôi trút mãi xuống nhân loại
Rực rỡ cháy bao tăm tối

Vạn giọt nước gom trong biển đầy
Hay chỉ là biển lệ thôi
Tựa trong thế giới nguy nga huy hoàng
ai đâu nào biết kiếp người lầm than
Thì mang đến giữa tối đen xấm sét cho vang rền
Cùng bao tia chớp lóe kinh mạch
Và hãy trút xuống giống khi trời rạn nứt ra
Và khi ấy là đổi thay đến

Hãy trút xuống, cứ trút xuống dương trần
tràn ngập hết cõi nhân gian
Hãy trút xuống, trút hết xuống một lần
Cho ngập tràn khắp nhân gian này

Make It Rain

When the sins of my father 
   weigh down in my soul
And the pain of my mother
   will not let me go
Well I know there can come fire from the sky
   to refine the purest of kings
And even though   I know this fire brings me pain
Even so, and just the same

Make it rain.  Make it rain down low
Make it rain. Oh make it rain
Make it rain, make it rain down low
Make it rain.  Make it rain

The seed needs the water before it grows out of the ground
But it just keeps on getting hard and the hunger more profound
Well I know there can come tears from the eye
But they may as well be in vain
Even though I know these tears come with pain
Even so, and just the same

Make it rain.  Make it rain down low
Make it rain.  Make it rain
Make it rain.  Make it rain down low
Make it rain.  Oh make it rain

And the seas are full of water that stops by the shore
Just like the riches of grandeur, oh no no, never reach the port
And let the clouds fill with thunderous applause
And let lightning be the veins that fill the sky
With all that they can drop when it's time to make a change

Make it rain.  Make it rain down low
Make it rain.  Oh make it rain
Make it rain.  Make it rain down low
Just make it rain.  Make it rain