Anh Còn Nghe Mãi

• Nguyên tác: Je crois entendre encore
• Nhạc & lời: George Bizet
• Lời Việt: Nguyễn Thảo
• Trình bày: Quý Anh
• Hòa âm & phối khí: Lê Vũ
• Ghi âm: Terre Media Studio
• Final mix: LeVuMusic Studio
• Graphics: Concept by MarcMarc

“Je crois entendre encore” là một trong những aria nổi tiếng nhất của vở opera Les Pêcheurs de perles của Georges Bizet. Đây là bài hát của Nadir khi chàng một mình hồi tưởng lại tiếng hát và hình bóng của Leïla, người phụ nữ mà chàng từng yêu nhưng đã cố từ bỏ vì lời hứa với Zurga. Trong toàn bộ aria, Bizet không xây dựng một tình huống kịch tính theo nghĩa thông thường. Không có đối đầu, không có lời thề, cũng không có một cao trào bùng nổ. Âm nhạc chỉ mở ra một vùng ký ức mong manh, nơi Nadir không còn chắc mình đang thực sự nghe thấy tiếng Leïla hay chỉ đang nghe lại tiếng nàng trong tâm tưởng.

Ngay từ câu mở đầu, “Je crois entendre encore”, Anh ngỡ như vẫn còn nghe thấy, cảm giác bất định đã xuất hiện. Nadir không nói rằng mình đang nghe, cũng không khẳng định rằng mình nhớ. Chàng chỉ “ngỡ như” còn nghe thấy. Cách diễn đạt ấy đặt toàn bộ aria vào một trạng thái nửa thực nửa mơ. Ký ức dường như rất gần, nhưng cũng có thể tan biến bất cứ lúc nào. Vì thế, âm nhạc không tiến tới phía trước với một mục tiêu rõ ràng mà thường quanh quẩn, dừng lại, rồi nhẹ nhàng trở về những đường nét quen thuộc, giống như một tâm trí đang cố giữ lấy một hình ảnh đang phai.

Giai điệu của aria đặc biệt tiết chế. Bizet không dùng những bước nhảy rộng hay những cử chỉ hùng tráng thường gặp trong các aria tenor thế kỷ XIX. Phần lớn đường giai điệu chuyển động bằng những quãng ngắn, mềm mại, đôi khi chỉ lướt quanh một vài nốt gần nhau. Nhờ vậy, giọng hát không mang tính phô diễn mà giống một lời độc thoại nội tâm. Người nghe có cảm giác Nadir đang nói với chính mình hơn là đang hát cho một khán phòng. Ngay cả khi giai điệu đi lên những nốt cao, cảm xúc cũng không trở thành chiến thắng hay khẳng định. Những nốt cao ấy vẫn mang vẻ yếu mềm, xa vắng và dễ tổn thương.

Phần đệm có nhịp đung đưa nhẹ nhàng, thường được liên hệ với tính chất của một barcarolle, tức kiểu nhạc gợi chuyển động đều đặn của một con thuyền trên mặt nước. Nhịp điệu này không chỉ liên quan đến bối cảnh vùng biển trong vở opera mà còn phản ánh trạng thái tâm lý của nhân vật. Ký ức trong Nadir không đứng yên; nó chập chờn, lên xuống, tiến lại gần rồi lùi xa. Phần đệm liên tục nâng đỡ tiếng hát nhưng hiếm khi giành lấy sự chú ý. Nó giống một dòng nước âm thầm mang giọng hát trôi qua toàn bộ aria.

Hòa âm của tác phẩm nhìn chung không dữ dội, nhưng thường trì hoãn cảm giác kết thúc. Nhiều câu nhạc dường như sắp tìm được điểm nghỉ rồi lại tiếp tục chuyển đi. Những nốt căng thẳng thường không được giải quyết ngay, khiến người nghe cảm thấy luôn còn một điều gì chưa nói hết. Chính sự trì hoãn ấy tạo nên nỗi khát khao đặc biệt của aria. Âm nhạc không bao giờ thực sự ổn định, bởi Nadir cũng không thể trở lại với tình yêu đã mất. Mỗi lần hòa âm dường như sắp khép lại, ký ức lại mở ra thêm một lần nữa.

Màu sắc dàn nhạc cũng được Bizet xử lý rất trong suốt. Phần mở đầu bằng âm sắc trầm buồn của kèn cor anglais tạo nên một không gian xa xăm trước khi giọng tenor xuất hiện. Âm thanh của nhạc cụ này gần với giọng người nhưng tối hơn, mờ hơn, như thể tiếng hát của Leïla đã được biến thành ký ức trong tâm trí Nadir. Khi giọng hát cất lên, người ta có cảm giác nó tiếp nối trực tiếp từ tiếng kèn ấy. Dàn dây và các nhạc cụ khác được sử dụng nhẹ nhàng, không che phủ giọng ca. Cả dàn nhạc dường như cũng đang nhớ lại cùng với nhân vật.

Về kỹ thuật thanh nhạc, “Je crois entendre encore” là một aria rất khó, không phải chủ yếu vì âm vực quá cao mà vì nó đòi hỏi người tenor phải hát những nốt cao với độ nhẹ, độ mềm và sự kiểm soát đặc biệt. Nhiều aria tenor cho phép ca sĩ dựa vào sức mạnh và âm lượng. Tác phẩm này lại đòi hỏi điều ngược lại. Người hát phải giữ được hơi thở ổn định, đường legato liền mạch và âm sắc sáng nhưng không căng. Nếu nốt cao bị đẩy quá mạnh, toàn bộ cảm giác mong manh của aria sẽ mất đi. Ca sĩ phải tạo được ấn tượng rằng tiếng hát gần như không có trọng lượng, như thể âm thanh đang nổi trôi trong không khí.

Điều khó nhất là phải giữ được cường độ nhỏ mà vẫn duy trì độ vang và độ chắc của âm thanh. Hát nhỏ không có nghĩa là làm giọng yếu đi. Người tenor vẫn phải sử dụng cột hơi vững, giữ vị trí âm thanh cao và tránh để cổ họng co lại. Khi kỹ thuật này được thực hiện tốt, những nốt cao không gây cảm giác phô trương mà trở thành những điểm sáng thoáng qua trong ký ức. Chính sự đối lập giữa độ cao của nốt nhạc và sự mềm mại của cách phát âm tạo nên vẻ đẹp đặc biệt của aria.

Về cấu trúc cảm xúc, aria có thể được cảm nhận như hai đợt sóng. Ở phần đầu, Nadir chủ yếu nhớ lại tiếng hát của Leïla. Ký ức lúc này mang tính thính giác. Chàng nghe tiếng nàng trong đêm, dù không còn biết đó là âm thanh thực hay ảo. Ở phần tiếp theo, ký ức trở nên rõ hơn và có hình ảnh hơn. Nadir tưởng tượng lại Leïla dưới bầu trời sao, trong một đêm huyền diệu. Cảm xúc có tăng lên, nhưng Bizet không để nó bùng nổ theo lối kịch tính. Cao trào vẫn được giữ trong giới hạn của sự hồi tưởng. Cuối cùng, âm nhạc không kết thúc bằng một tuyên bố mạnh mẽ mà lặng lẽ tan đi, giống như một hình ảnh vừa hiện lên rồi biến mất.

Sức lay động của aria nằm chính trong sự tiết chế ấy. Bizet hiểu rằng nỗi nhớ sâu nhất thường không ồn ào. Nadir không van xin, không trách móc và cũng không than khóc dữ dội. Chàng chỉ lắng nghe một tiếng hát không còn hiện hữu. Càng cố giữ lại ký ức, chàng càng cảm nhận rõ khoảng cách giữa quá khứ và hiện tại. Sự im lặng chung quanh những câu hát vì thế trở nên quan trọng không kém bản thân giai điệu.

Nếu nhìn từ góc độ tâm lý, aria không chỉ nói về Leïla mà còn nói về bản chất của ký ức. Nadir không còn miêu tả một con người đang hiện diện trước mặt. Chàng đang miêu tả dấu vết mà người ấy để lại trong tâm hồn mình. Theo thời gian, ký ức ấy có thể đã đẹp hơn cả thực tế. Leïla trong aria không còn hoàn toàn là một phụ nữ có thật, mà đã trở thành biểu tượng của một tình yêu lý tưởng, xa xôi và không thể chạm tới.

Đây cũng là lý do “Je crois entendre encore” thường gây ấn tượng mạnh dù bề ngoài rất ít biến cố. Nó không kể một câu chuyện theo cách thông thường mà tái hiện khoảnh khắc một con người sống lại quá khứ trong vài phút ngắn ngủi. Âm nhạc không cố chứng minh rằng tình yêu ấy vẫn còn tồn tại trong hiện thực. Nó chỉ cho thấy rằng trong ký ức của Nadir, tình yêu ấy chưa từng biến mất.

“Je crois entendre encore” vì thế không phải là một aria về sức mạnh của tình yêu, mà về sức mạnh của điều còn sót lại sau tình yêu. Nó diễn tả khoảnh khắc quá khứ trở nên sống động hơn hiện tại, nhưng cũng chỉ trong một thời gian rất ngắn. Người hát càng cố kiềm chế cảm xúc, nỗi đau càng trở nên sâu. Chính sự dịu dàng, mong manh và gần như không dám chạm vào ký ức ấy đã làm cho aria trở thành một trong những khúc hát tình yêu đẹp nhất của Bizet.

Phân tích ca khúc Je Crois Entendre Encore của ChatGPT

Anh Còn Nghe Mãi

Sao anh vẫn còn nghe mãi
Trong lá cây nghiêng chiều gió lay
Tiếng ai khẽ khàng xa vắng
Hay là tiếng chim đang gọi bầy?

Ôi đêm diệu huyền sâu thẳm
Bỗng vút cao cho hồn buốt đau
Kỷ niệm yêu dấu dâng đầy
Mộng trong mê gọi nhớ nhung về đây

Trong đêm mơ màng huyễn ảo
Ngẩn ngơ thấy em dưới ánh sao
Tơ buông lơi dài theo gió
Nhẹ tựa khói sương vương trong hồn

Sao đêm diệu huyền lấp lánh
Hương ngát thơm cho hồn ngất ngây
Kỷ niệm yêu dấu dâng đầy
Mộng trong mê gọi nhớ nhung cuồng si

Gọi nhớ đong đầy giấc mơ
Gọi mãi kỷ niệm xưa

Je crois entendre encore

Je crois entendre encore
Caché sous les palmiers
Sa voix tendre et sonore
Comme un chant de ramiers.

Ô nuit enchanteresse
Divin ravissement
Ô souvenir charmant,
Folle ivresse, doux rêve!

Aux clartés des étoiles
Je crois encor la voir
Entr'ouvrir ses longs voiles
Aux vents tièdes du soir.

Ô nuit enchanteresse
Divin ravissement
Ô souvenir charmant
Folle ivresse, doux rêve!

Charmant souvenir!
Charmant souvenir!

Alleluia

• Nhạc & lời: Leonard Cohen
• Lời Việt: Nguyễn Thảo
• Trình bày: Lê Vũ, Nguyễn Thảo, Triệu Vinh
• Hòa âm & phối khí: Lê Vũ
• Ghi âm: Nhiều phòng thâu
• Final mix: LeVuMusic Studio
• Graphics: MarcMarc

Nhân dạo này, anh Ngu Yên vừa tung ra một loạt bài viết về âm nhạc, từ nhạc sĩ , ca sĩ đến khán giả, từ cấu trúc bài nhạc đến cấu trúc hòa âm, những bài phân tích mà KJ cảm thấy rất cần cho ta tìm hiểu cũng như tạo cho ta một thói quen thẩm thấu âm nhạc một cách có ý thức hơn. Tuần này, Đại Quỳnh gửi đến các bạn một bài viết kỷ thuật hơn. Anh là một bác sĩ tâm thần, lớn lên trong môi trường nghệ thuật, và đã theo học âm nhạc trong bao năm qua. Mời các bạn.

Đại Quỳnh: Hiện tượng “Transference,  Countertransference, and Collective Unconscious” trong âm nhạc

Trong ngành y khoa tâm thần và tâm lý trị liệu, khái niệm “Transference and Countertransference” là một trung điểm, tầm quan trọng có thể chỉ định được mức thành công của sự chữa trị ngay từ giây phút ban đầu. Tóm tắt, “transference” định nghĩa cho những phản ứng mãnh liệt, và hoàn toàn từ bất ý thức, của người cần trị liệu đến người chữa trị (bác sĩ y khoa tâm thần, hay chuyên gia tâm lý trị liệu).

Ví dụ, một người đàn ông mang tên X mắc phải những triệu chứng trầm cảm (mất ăn, mất ngủ, suy nhược sức khỏe, mất tập trung, mất tha thiết niềm vui trong đời sống), bồn chồn, gặp những khó khăn trong công việc và dần mất tự tin. Anh ta tìm đến một bác sĩ y khoa tâm thần mang tên Y để tham khảo và chữa trị. Sau khi X được cho thuốc men giúp phục hồi phần nào sức khỏe, song song với tâm lý trị liệu, tuy nhiên X vẫn cảm thấy còn phần nhiều triệu chứng ban đầu, dù là giảm đi mức trầm trọng, nhưng vẫn không sinh hoạt bình thường được.

Trong trường hợp của X, ngay hôm đầu gặp bác sĩ Y, X đã ngờ ngợ một cảm giác quen thuộc. Y nói chuyện từ tốn nhẹ nhàng, và có một dáng dấp cùng những cử chỉ như người cha của X. Trong quá khứ, X lớn lên trong nền giáo huấn khắt khe, nhiều đòi hỏi kỳ vọng ở người cha, nên sự thiếu tự tin và những dấu hiệu bồn chồn trầm cảm đã xuất phát từ nhỏ. Transference xảy ra cho X do phản ứng của X đối với Y, như người con ngoan ngoãn tuân lệnh người cha. Trị liệu thuốc men giúp một phần nào triệu chứng, nhưng phản ứng transference không những duy trì mà còn khích động thêm bồn chồn trầm cảm nơi X.

“Countertransference” là phản ứng đối chiếu do X gây ra trong Y. Lối nói chuyện nhỏ nhẹ, thái độ nhút nhát của X làm Y liên tưởng đến người mẹ của Y, sống bên người chồng hung hăng luôn đàn áp và hà hiếp bà. Từ nhỏ, Y đã luôn phải tìm mọi cách để bảo vệ mẹ mình, đưa đến trong Y một trạng thái phẫn uất, dễ khả nghi những sự việc chung quanh.

Và như thế, chúng ta có thể hiểu được những khó khăn chữa trị, dẫu cho Y có tận tâm hết mức và X theo sát tuân chỉ chữa trị (treatment compliance). Nguyên nhân chính là do yếu tố nan giải transference and countertransference.

“Collective unconscious” là một khái niệm uyên bá, phổ thông hóa bởi Carl Jung. Ông định nghĩa về những khuôn mẫu huyền bí trong tạo hóa, kết dựng từ toàn thể bất ý thức trong nhân sinh, đã hiện thể từ muôn đời. Ví dụ, khuôn mẫu người mẹ thương con đã sẵn có trong tiềm thức nhân sinh, trong bất ý thức của người đàn bà. Sau khi sanh con, người mẹ lập tức tự động đi vào quỹ đạo thương lo cho con suốt đời—không cần đến một bài học trường lớp nào để nền tảng cho ý thức này. Ví dụ tiếp đến là khuôn mẫu anh hùng thời đại, sẵn có trong quỹ tích anh hùng từ bao thời đại trước trong tiềm thức nhân sinh.

Thế thì, “transference, countertransference, and collective unconscious” có liên hệ gì với âm nhạc?

Mỗi khi chúng ta tiếp xúc trong câu chuyện với bất kỳ ai, là transference đang xảy ra trong ta từ người đó. Hoặc khi chúng ta thuyết trình trước đám đông, ngầm dưới đề tài thuyết trình, transference diễn tiến không kiểm soát. Mặc dù chúng ta không có một sự tiếp xúc cố định với một nhân vật đặc những cá tánh nào—nhưng ngay cả những cảm xúc của chúng ta trong đề tài thuyết trình cũng là cơ hội tiết lộ ra những phản ứng transference bất ý thức.

Khi người ca sĩ X trình bày một nhạc phẩm, X đi vào một trạng thái transference trong bất ý thức. Ca sĩ X thể hiện nhạc phẩm với tình cảm và suy tư của riêng mình, là một cơ hội tiết lộ transference. Tùy theo mỗi cá nhân Y, phản ứng countertransference có thể là thích, ghét, hoặc trung trung ( bất ý thức)—ngoài đơn giản nhận xét và định giá phần trình bày bài nhạc (ý thức).

Tại sao những ca sĩ như Elvis Presley, Edith Piaf, etc. được yêu chuộng tức khắc trong những nhạc phẩm của họ, và vẫn tiếp tục được ái mộ sau nhiều thế hệ. Đây là vai trò khuôn mẫu collective unconscious của Jung. Người khán giả Y có thể nhận định nhiều ca sĩ có giọng hát hay hơn và nội lực hơn Elvis Presley và Edith Piaf (ý thức), nhưng trong bất ý thức collective unconscious, Elvis Presley và Edith Piaf đã và sẽ mãi mãi ngự trị khuôn mẫu của những tác phẩm này.

Những điều kỳ diệu thể hiện trong bất ý thức luôn là thâm thuý và có một sức duy trì bền bỉ với thời gian hơn là trong phạm vi ý thức. Lấy ví dụ cụ thể, khi tenor Andrea Bocelli ra dĩa nhạc bài “Can’t help falling in love” năm 2006, bài này đã đạt ngay được một mức thành công đáng kể, do giọng tenor nội lực của ông trong lối trình bày nhẹ nhàng thu hút. Nhưng phiên bản của Elvis Presley từ năm 1961 vẫn trường tồn cho đến ngày nay, mỗi khi ai nhắc đến bài này. Một ví dụ nữa là năm 2024, ở Thế vận hội  Paris Olympic, Céline Dion đã khai mạc với nhạc phẩm “Hymne à l’amour” và đã được hoan nghênh toàn cầu trong giọng mezzo-soprano với phong cách hát đam mê của cô. Nhưng chỉ trong một vài năm, ngay vào thời điểm 2026 này, khi nói đến “Hymne à l’amour”, phần lớn đều không quên phiên bản 1950 của Edith Piaf.

Kết luận, khi người ca sĩ trình bày một nhạc phẩm, ý thức của ca sĩ là giọng hát, phong cách trình diễn, và cảm xúc trong bài hát. Bất ý thức là những tình cảm của ca sĩ, có thể là khó khăn, đã từ lâu chôn vùi trong quá khứ. Khi hai yếu tố này (ý thức và bất ý thức) hội tụ với khuôn mẫu bất ý thức collective unconscious trong muôn vàn khán giả—A star is born!

Alleluia

Mạch nhạc nào nghe như có bí phép
Người đàn lên theo thánh ý chép.
Sao anh vô tư, không quan tâm, chẳng đoái hoài?
Này đây quãng tư, quãng năm tiếp nối.
Thứ âm trầm rơi, trưởng âm lên vút.
Ngẩn ngơ quân vương vung tay phóng bút Alleluia.
Alleluia, Alleluia, Alleluia, Alleluia

Niềm tin trong anh đôi lúc chới với,
Vì trong đêm trăng trên nóc mái ngói ,
Nhìn em tắm ánh nước lấp loáng, khiến anh như người mất hồn.
Buộc thân anh trên chiếc ghế gỗ mốc,
Đập tan ngai vua, gọt bay mái tóc.
Từ trên môi anh, em chắt lấy khúc Alleluia.
Alleluia, Alleluia, Alleluia, Alleluia

Phòng không nơi đây anh có biết đến.
Từng giam chân anh, và đã lấy mất hết,
Lấy mất tất cả chỉ sót trong anh niềm cô độc.
Rềnh rang em giương cờ bay muôn sắc.
Tình yêu đâu ai vẻ vang chiến thắng?
Chỉ có vắng ngắt (và) nát tan câu nguyện cầu.
Alleluia, Alleluia, Alleluia, Alleluia

Một thời luôn nghe chuyện buồn vui dưới thế.
Chuyện nhân gian xưa em mang ra kể.
Nhưng nay sao anh chỉ thấy hoang mang toàn im lìm.
Một thời năm nao khi ta trong nhau,
Cùng thần linh kia giang cánh bay cao,
Làn hơi trên môi, ta nghe mấp máy Alleluia.
Alleluia, Alleluia, Alleluia, Allelu…ia

Còn không trên kia một đấng Sáng Thế?
Bài học yêu đương riêng anh vẫn biết
Sao cho nhanh tay bắn trúng kẻ trong cuộc chơi này.
Chẳng phải lời than trong đêm tối ám,
Cũng chẳng là ai tìm thấy ánh sáng,
Lạnh tanh rách nát chỉ có câu Alleluia.
Alleluia, Alleluia, Alleluia, Alleluia

Hallelujah

Well, I heard there was a secret chord
That David played and it pleased the Lord

But you don't really care for music, do you?
Well it goes like this: the fourth, the fifth
The minor fall and the major lift
The baffled king composing Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah, Hallelujah…

Your faith was strong but you needed proof
You saw her bathing on the roof
Her beauty and the moonlight overthrew you
She tied you to her kitchen chair
She broke your throne and she cut your hair
And from your lips she drew the Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah, Hallelujah…

Baby I've been here before
I've seen this room and I've walked this floor (you know)
I used to live alone before I knew you
And I've seen your flag on the marble arch
And love is not a victory march
It's a cold and it's a bro
ken Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah, Hallelujah…

There was a time when you let me know
What's really going on below
But now you never show that to me, do you?
But remember when I moved in you
And the holy dove was moving too
And every breath we drew was Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah, Hallelujah…

Maybe there's a God above
All I've ever learned from love
Was how to shoot somebody who outdrew you
And it's not a cry that you hear at night
It's not somebody who's seen the light
It's a cold and it's a broken Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah, Hallelujah…