Alleluia

• Nhạc & lời: Leonard Cohen
• Lời Việt: Nguyễn Thảo
• Trình bày: Lê Vũ, Nguyễn Thảo, Triệu Vinh
• Hòa âm & phối khí: Lê Vũ
• Ghi âm: Nhiều phòng thâu
• Final mix: LeVuMusic Studio
• Graphics: MarcMarc

Nhân dạo này, anh Ngu Yên vừa tung ra một loạt bài viết về âm nhạc, từ nhạc sĩ , ca sĩ đến khán giả, từ cấu trúc bài nhạc đến cấu trúc hòa âm, những bài phân tích mà KJ cảm thấy rất cần cho ta tìm hiểu cũng như tạo cho ta một thói quen thẩm thấu âm nhạc một cách có ý thức hơn. Tuần này, Đại Quỳnh gửi đến các bạn một bài viết kỷ thuật hơn. Anh là một bác sĩ tâm thần, lớn lên trong môi trường nghệ thuật, và đã theo học âm nhạc trong bao năm qua. Mời các bạn.

Đại Quỳnh: Hiện tượng “Transference,  Countertransference, and Collective Unconscious” trong âm nhạc

Trong ngành y khoa tâm thần và tâm lý trị liệu, khái niệm “Transference and Countertransference” là một trung điểm, tầm quan trọng có thể chỉ định được mức thành công của sự chữa trị ngay từ giây phút ban đầu. Tóm tắt, “transference” định nghĩa cho những phản ứng mãnh liệt, và hoàn toàn từ bất ý thức, của người cần trị liệu đến người chữa trị (bác sĩ y khoa tâm thần, hay chuyên gia tâm lý trị liệu).

Ví dụ, một người đàn ông mang tên X mắc phải những triệu chứng trầm cảm (mất ăn, mất ngủ, suy nhược sức khỏe, mất tập trung, mất tha thiết niềm vui trong đời sống), bồn chồn, gặp những khó khăn trong công việc và dần mất tự tin. Anh ta tìm đến một bác sĩ y khoa tâm thần mang tên Y để tham khảo và chữa trị. Sau khi X được cho thuốc men giúp phục hồi phần nào sức khỏe, song song với tâm lý trị liệu, tuy nhiên X vẫn cảm thấy còn phần nhiều triệu chứng ban đầu, dù là giảm đi mức trầm trọng, nhưng vẫn không sinh hoạt bình thường được.

Trong trường hợp của X, ngay hôm đầu gặp bác sĩ Y, X đã ngờ ngợ một cảm giác quen thuộc. Y nói chuyện từ tốn nhẹ nhàng, và có một dáng dấp cùng những cử chỉ như người cha của X. Trong quá khứ, X lớn lên trong nền giáo huấn khắt khe, nhiều đòi hỏi kỳ vọng ở người cha, nên sự thiếu tự tin và những dấu hiệu bồn chồn trầm cảm đã xuất phát từ nhỏ. Transference xảy ra cho X do phản ứng của X đối với Y, như người con ngoan ngoãn tuân lệnh người cha. Trị liệu thuốc men giúp một phần nào triệu chứng, nhưng phản ứng transference không những duy trì mà còn khích động thêm bồn chồn trầm cảm nơi X.

“Countertransference” là phản ứng đối chiếu do X gây ra trong Y. Lối nói chuyện nhỏ nhẹ, thái độ nhút nhát của X làm Y liên tưởng đến người mẹ của Y, sống bên người chồng hung hăng luôn đàn áp và hà hiếp bà. Từ nhỏ, Y đã luôn phải tìm mọi cách để bảo vệ mẹ mình, đưa đến trong Y một trạng thái phẫn uất, dễ khả nghi những sự việc chung quanh.

Và như thế, chúng ta có thể hiểu được những khó khăn chữa trị, dẫu cho Y có tận tâm hết mức và X theo sát tuân chỉ chữa trị (treatment compliance). Nguyên nhân chính là do yếu tố nan giải transference and countertransference.

“Collective unconscious” là một khái niệm uyên bá, phổ thông hóa bởi Carl Jung. Ông định nghĩa về những khuôn mẫu huyền bí trong tạo hóa, kết dựng từ toàn thể bất ý thức trong nhân sinh, đã hiện thể từ muôn đời. Ví dụ, khuôn mẫu người mẹ thương con đã sẵn có trong tiềm thức nhân sinh, trong bất ý thức của người đàn bà. Sau khi sanh con, người mẹ lập tức tự động đi vào quỹ đạo thương lo cho con suốt đời—không cần đến một bài học trường lớp nào để nền tảng cho ý thức này. Ví dụ tiếp đến là khuôn mẫu anh hùng thời đại, sẵn có trong quỹ tích anh hùng từ bao thời đại trước trong tiềm thức nhân sinh.

Thế thì, “transference, countertransference, and collective unconscious” có liên hệ gì với âm nhạc?

Mỗi khi chúng ta tiếp xúc trong câu chuyện với bất kỳ ai, là transference đang xảy ra trong ta từ người đó. Hoặc khi chúng ta thuyết trình trước đám đông, ngầm dưới đề tài thuyết trình, transference diễn tiến không kiểm soát. Mặc dù chúng ta không có một sự tiếp xúc cố định với một nhân vật đặc những cá tánh nào—nhưng ngay cả những cảm xúc của chúng ta trong đề tài thuyết trình cũng là cơ hội tiết lộ ra những phản ứng transference bất ý thức.

Khi người ca sĩ X trình bày một nhạc phẩm, X đi vào một trạng thái transference trong bất ý thức. Ca sĩ X thể hiện nhạc phẩm với tình cảm và suy tư của riêng mình, là một cơ hội tiết lộ transference. Tùy theo mỗi cá nhân Y, phản ứng countertransference có thể là thích, ghét, hoặc trung trung ( bất ý thức)—ngoài đơn giản nhận xét và định giá phần trình bày bài nhạc (ý thức).

Tại sao những ca sĩ như Elvis Presley, Edith Piaf, etc. được yêu chuộng tức khắc trong những nhạc phẩm của họ, và vẫn tiếp tục được ái mộ sau nhiều thế hệ. Đây là vai trò khuôn mẫu collective unconscious của Jung. Người khán giả Y có thể nhận định nhiều ca sĩ có giọng hát hay hơn và nội lực hơn Elvis Presley và Edith Piaf (ý thức), nhưng trong bất ý thức collective unconscious, Elvis Presley và Edith Piaf đã và sẽ mãi mãi ngự trị khuôn mẫu của những tác phẩm này.

Những điều kỳ diệu thể hiện trong bất ý thức luôn là thâm thuý và có một sức duy trì bền bỉ với thời gian hơn là trong phạm vi ý thức. Lấy ví dụ cụ thể, khi tenor Andrea Bocelli ra dĩa nhạc bài “Can’t help falling in love” năm 2006, bài này đã đạt ngay được một mức thành công đáng kể, do giọng tenor nội lực của ông trong lối trình bày nhẹ nhàng thu hút. Nhưng phiên bản của Elvis Presley từ năm 1961 vẫn trường tồn cho đến ngày nay, mỗi khi ai nhắc đến bài này. Một ví dụ nữa là năm 2024, ở Thế vận hội  Paris Olympic, Céline Dion đã khai mạc với nhạc phẩm “Hymne à l’amour” và đã được hoan nghênh toàn cầu trong giọng mezzo-soprano với phong cách hát đam mê của cô. Nhưng chỉ trong một vài năm, ngay vào thời điểm 2026 này, khi nói đến “Hymne à l’amour”, phần lớn đều không quên phiên bản 1950 của Edith Piaf.

Kết luận, khi người ca sĩ trình bày một nhạc phẩm, ý thức của ca sĩ là giọng hát, phong cách trình diễn, và cảm xúc trong bài hát. Bất ý thức là những tình cảm của ca sĩ, có thể là khó khăn, đã từ lâu chôn vùi trong quá khứ. Khi hai yếu tố này (ý thức và bất ý thức) hội tụ với khuôn mẫu bất ý thức collective unconscious trong muôn vàn khán giả—A star is born!

Alleluia

Mạch nhạc nào nghe như có bí phép
Người đàn lên theo thánh ý chép.
Sao anh vô tư, không quan tâm, chẳng đoái hoài?
Này đây quãng tư, quãng năm tiếp nối.
Thứ âm trầm rơi, trưởng âm lên vút.
Ngẩn ngơ quân vương vung tay phóng bút Alleluia.
Alleluia, Alleluia, Alleluia, Alleluia

Niềm tin trong anh đôi lúc chới với,
Vì trong đêm trăng trên nóc mái ngói ,
Nhìn em tắm ánh nước lấp loáng, khiến anh như người mất hồn.
Buộc thân anh trên chiếc ghế gỗ mốc,
Đập tan ngai vua, gọt bay mái tóc.
Từ trên môi anh, em chắt lấy khúc Alleluia.
Alleluia, Alleluia, Alleluia, Alleluia

Phòng không nơi đây anh có biết đến.
Từng giam chân anh, và đã lấy mất hết,
Lấy mất tất cả chỉ sót trong anh niềm cô độc.
Rềnh rang em giương cờ bay muôn sắc.
Tình yêu đâu ai vẻ vang chiến thắng?
Chỉ có vắng ngắt (và) nát tan câu nguyện cầu.
Alleluia, Alleluia, Alleluia, Alleluia

Một thời luôn nghe chuyện buồn vui dưới thế.
Chuyện nhân gian xưa em mang ra kể.
Nhưng nay sao anh chỉ thấy hoang mang toàn im lìm.
Một thời năm nao khi ta trong nhau,
Cùng thần linh kia giang cánh bay cao,
Làn hơi trên môi, ta nghe mấp máy Alleluia.
Alleluia, Alleluia, Alleluia, Allelu…ia

Còn không trên kia một đấng Sáng Thế?
Bài học yêu đương riêng anh vẫn biết
Sao cho nhanh tay bắn trúng kẻ trong cuộc chơi này.
Chẳng phải lời than trong đêm tối ám,
Cũng chẳng là ai tìm thấy ánh sáng,
Lạnh tanh rách nát chỉ có câu Alleluia.
Alleluia, Alleluia, Alleluia, Alleluia

Hallelujah

Well, I heard there was a secret chord
That David played and it pleased the Lord

But you don't really care for music, do you?
Well it goes like this: the fourth, the fifth
The minor fall and the major lift
The baffled king composing Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah, Hallelujah…

Your faith was strong but you needed proof
You saw her bathing on the roof
Her beauty and the moonlight overthrew you
She tied you to her kitchen chair
She broke your throne and she cut your hair
And from your lips she drew the Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah, Hallelujah…

Baby I've been here before
I've seen this room and I've walked this floor (you know)
I used to live alone before I knew you
And I've seen your flag on the marble arch
And love is not a victory march
It's a cold and it's a bro
ken Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah, Hallelujah…

There was a time when you let me know
What's really going on below
But now you never show that to me, do you?
But remember when I moved in you
And the holy dove was moving too
And every breath we drew was Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah, Hallelujah…

Maybe there's a God above
All I've ever learned from love
Was how to shoot somebody who outdrew you
And it's not a cry that you hear at night
It's not somebody who's seen the light
It's a cold and it's a broken Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah, Hallelujah…

Âm Thanh Của Thinh Lặng

• Nguyên tác: The Sound of Silence
• Nhạc & lời: Paul Simon
• Lời Việt: Nguyễn Thảo & Lê Vũ
• Trình bày: Lê Vũ
• Hòa âm & phối khí: Lê Vũ
• Ghi âm: ElevenSixteen & LeVuMusic Studio
• Final mix: LeVuMusic Studio
• Graphics: Concept by MarcMarc

NT: Tôi có một anh bạn rất sợ tiếng động.  Nói đúng ra là anh ta không thích tiếng động.  Anh ta luôn luôn phàn nàn về chỗ anh ở, không hiểu vì sao hàng xóm của anh lại có thể ồn ào như vậy. 

Anh ở tít ngoài vùng ngoại ô hẻo lánh.  Anh không thể nào hiểu được tại sao tôi lại chọn ở giữa chốn phố phường, suốt ngày suốt đêm xe cộ chạy tấp nập, còi kêu inh ỏi, bộ hành ơi ới.

Làm tôi tự hỏi, có nơi nào thật sự hoàn toàn im lặng trên thế giới này không?

Tiểu bang Minnesota có một tòa nhà, nơi Orfield Laboratories được biết đến với căn phòng anoechoic chamber, căn phòng tiêu âm, nơi 99.99% tiếng động bị hút mất.  Cả bốn mặt tường, trần và sàn nhà được xây bằng 6 lớp bê tông dày và thép đã được cách ly.  Trên mặt tường, trần và sàn là một lớp những mảng nhọn và dày được cấu tạo bằng thủy tinh sợi (fiberglass) để ngăn những phản xạ âm thanh.  Đây là nơi độc nhất có tiếng động nền (background noise) ở mức gần -9 dB.  So với “im lặng” chúng ta thường được biết ở khoảng +30 dB.

Tôi nghe nói người chịu nỗi sự im lặng trong căn phòng này lâu nhất là 45 phút.

Tôi cũng nghe nói trong cái ngột ngạt của im lặng, điều làm người ta khó chịu nhất là nghe rất rõ tiếng máu chảy trong động mạch cũng như tiếng tim đập của chính họ.

Có nghĩa là có chạy đằng trời chúng ta cũng chẳng bao giờ thoát khỏi… tiếng động.

Phòng tiêu âm được xây vào năm 1943.  Ông nhạc sĩ Paul Simon viết ca khúc về âm thanh của sự im lặng vào năm 1964.  Bạn và tôi hè nhau dịch ca khúc The Sound of Silence này ra tiếng Việt vào năm 2018.

Tôi vẫn thích mấy câu trong bài nhạc: people talking without speaking.  People hearing without listening. People writing songs that voices never share. Noone dared to disturb the sound of silence.

Âm Thanh Của Thinh Lặng

Này bạn thân tôi, bóng tối đen
Trò chuyện cùng tôi đêm vắng giấc quen
Vì vào một đêm, trong chiêm bao, phút huyễn mơ
Hình tượng huyền linh gieo sâu tâm trí ngẩn ngơ
Rồi từng đêm qua, còn nguyên đấy giữa tim tôi
Đã đâm chồi
Mọc từ nghìn tiếng của thinh lặng

Một mình trong mơ tôi cất bước đi
Gập ghềnh quanh co ngõ vắng im hơi
Đèn vàng nghiêng soi tôi thêm linh cảm bất an
Lạnh lùng sương rơi như xuyên thấm ướt áo tơi
Rồi chợt bừng chói một tia chớp sáng nhức mắt tôi
Như xé đêm dài
Chạm vào nghìn tiếng của thinh lặng

Rừng người từ đâu bỗng thấy quanh đây
Vùng đèn néon dọi ánh trắng xanh
Người chuyện trò nhưng không thấy nói chi
Người cùng nghe nhưng không hiểu nói chi
Và người còn viết nhiều ca khúc nhưng có mấy ai
Dám xao động
Sợ làm òa vỡ nghìn thinh lặng

“Thật là khùng điên, hỡi nhân gian
Lặng thầm là ung thư sẽ mãi lan
Này là lời tôi, xin anh em hãy lắng nghe
Này bàn tay tôi, xin anh em nắm lấy thôi”
Mà lời nói tựa giọt nước của cơn mưa
Rớt âm thầm, vọng vào lòng giếng của thinh lặng

Gục đầu người lo cầu khẩn ăn năn
Quỳ lạy thần linh ánh sáng néon
Đèn chợp từng cơn như câu khuyến cáo thế gian
Giòng điện rực lên tựa như câu nói thánh nhân
“Này lời răn, lời của tiên tri đã viết lên trên tường
Bến xe điện ngầm.”
Rồi thầm thì bằng nghìn tiếng của thinh lặng

The Sound of Silence

Hello darkness, my old friend
I've come to talk with you again
Because a vision softly creeping
Left its seeds while I was sleeping
And the vision that was planted in my brain
Still remains
Within the sound of silence

In restless dreams I walked alone
Narrow streets of cobblestone
'Neath the halo of a street lamp
I turned my collar to the cold and damp
When my eyes were stabbed by the flash of a neon light
That split the night
And touched the sound of silence

And in the naked light I saw
Ten thousand people, maybe more
People talking without speaking
People hearing without listening
People writing songs that voices never share
No one dared
Disturb the sound of silence

"Fools" said I, "You do not know
Silence like a cancer grows
Hear my words that I might teach you
Take my arms that I might reach you"
But my words like silent raindrops fell
And echoed in the wells of silence

And the people bowed and prayed
To the neon god they made
And the sign flashed out its warning
In the words that it was forming
And the sign said, "The words of the prophets
Are written on the subway walls
And tenement halls"
And whispered in the sounds of silence